Trang đầu bản án ly hôn, chia tài sản chung là nhà đất bố mẹ chồng cho, đã che thông tin đương sự
|

Nhà đất bố mẹ chồng cho, khi ly hôn vợ có được chia không?

Chia sẻ

Đây là trường hợp khá phổ biến hiện nay, câu trả lời là: Người vợ có thể được chia, dù không có hợp đồng tặng cho. Nếu bố mẹ chồng đã giao đất, vợ chồng xây nhà kiên cố, sử dụng ổn định và được cấp giấy chứng nhận, Tòa án có thể xác định đất đã được tặng cho vợ chồng theo Án lệ 03/2016/AL. Nhưng tài sản chung không đồng nghĩa với chia đôi, việc phân chia này phụ thuộc vào nguồn gốc tài sản và công sức hình thành tài sản.

Bài này phân tích một bản án sơ thẩm thực tế tại Hà Nội mà Luật Nhật Thư có trong hồ sơ. Bản án không bị kháng cáo và đã có hiệu lực. Tên đương sự, địa chỉ và số thửa đất đã được lược bỏ.

Trang đầu bản án ly hôn, chia tài sản chung là nhà đất bố mẹ chồng cho, đã che thông tin đương sự
Bản án sơ thẩm về tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn (đã che thông tin đương sự)

Tóm tắt vụ việc: đất của bố mẹ chồng, nhà do vợ chồng xây

  • Ông Đ. và bà T. kết hôn năm 1980, đăng ký kết hôn tại UBND xã, sống chung trên thửa đất khoảng 400m² ở một xã ngoại thành Hà Nội. Thửa đất có nguồn gốc của bố mẹ ông Đ.
  • Bố ông Đ. mất năm 1987, không để lại di chúc. Mẹ ông Đ. đến năm 1991 ra ở cùng con gái út trên phần đất giãn dân được cấp riêng.
  • Năm 1998, cả hộ gồm vợ chồng và các con kê khai, UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Đ. là chủ hộ.
  • Năm 2004, gia đình và mẹ ông Đ. thống nhất bán 186m². Tiền bán chia cho ba chị em gái của ông Đ. mỗi người 20 triệu đồng, gửi tiết kiệm 100 triệu đồng cho mẹ, phần còn lại cùng tiền tiết kiệm của vợ chồng dùng xây nhà 3 tầng trên 214m² còn lại.
  • Năm 2008, vợ chồng cùng con trai xây thêm 02 dãy nhà trọ và công trình phụ.
  • Năm 2018 ông Đ. khởi kiện ly hôn. Bà T. yêu cầu chia đôi nhà đất. Ông Đ. và ba chị em gái cho rằng nhà đất là di sản của bố mẹ, không phải tài sản chung của vợ chồng.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1998 đứng tên chủ hộ gia đình trên đất bố mẹ chồng cho, đã che thông tin
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1998 cho hộ gia đình, bìa và trang chứng nhận (đã che thông tin chủ hộ và thửa đất)

Về quan hệ hôn nhân, hai bên cùng đồng ý ly hôn tại phiên tòa, nên tranh chấp thực chất chỉ còn phần nhà đất.

Tòa án xác định nhà đất là tài sản chung dựa vào đâu

Tòa án dựa vào hai căn cứ, cả hai đều gặp nhiều trong các vụ ly hôn có đất của bố mẹ.

Thứ nhất: thời hiệu chia di sản của bố chồng đã hết

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.

Khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015

Bố ông Đ. mất năm 1987, nên thời hiệu chia phần di sản là bất động sản đã hết từ năm 2017. Ba chị em gái của ông Đ. không còn quyền yêu cầu chia phần đất này như di sản của bố.

Thứ hai: mẹ chồng đã cho vợ chồng quyền sử dụng đất theo Án lệ 03/2016/AL

Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất.

Nội dung Án lệ số 03/2016/AL, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06/4/2016
Án lệ số 03/2016/AL về nhà đất cha mẹ cho vợ chồng người con khi ly hôn
Nội dung khái quát Án lệ số 03/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Hiểu đơn giản, Tòa không cần tìm thấy hợp đồng tặng cho. Tòa nhìn vào việc gia đình, anh chị em không có ý kiến phản đối khi 02 vợ chồng xây dựng, tạo lập tài sản, xây nhà trên đất. Trong vụ này, mẹ chồng tự bán một phần đất, chia tiền cho các con gái, giao phần còn lại cho vợ chồng ông Đ. làm nhà; vợ chồng sử dụng liên tục từ năm 2004, được cấp giấy chứng nhận, không ai phản đối. Tòa kết luận nhà đất là tài sản chung của vợ chồng.

Tòa án áp dụng Án lệ 03/2016/AL xác định nhà đất bố mẹ chồng cho là tài sản chung vợ chồng
Trang 8 bản án: Tòa nhận định yêu cầu chia tài sản của người vợ phù hợp với Án lệ 03/2016/AL (đã che thông tin)

Tài sản chung nhưng vợ chỉ được chia 1/4

Bà T. yêu cầu chia đôi nhưng Tòa án chia cho ông Đ. 3/4 và bà T. 1/4 giá trị tài sản. Căn cứ là khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: tài sản chung được chia đôi nhưng có tính đến hoàn cảnh gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập khối tài sản.

Tòa nhận định nguồn gốc khối tài sản chủ yếu do mẹ ông Đ. cho và do ông Đ. được hưởng phần thừa kế của bố đã hết thời hiệu. Vì vậy công sức của ông Đ. được đánh giá lớn hơn đáng kể.

KhoảnGiá trị theo bản án
Quyền sử dụng 213,3m² đất ở (định giá 40 triệu đồng/m²)8.532.000.000 đồng
Nhà 3 tầng, nhà cấp 4, sân, cổng, tường bao2.403.452.400 đồng
Tổng tài sản tranh chấp10.935.452.400 đồng
Trích công sức cho con trai (1/3 giá trị nhà trọ, công trình phụ)20.573.300 đồng
Còn lại để chia10.914.879.100 đồng
Ông Đ. được hưởng 3/48.186.159.300 đồng
Bà T. được hưởng 1/42.728.719.800 đồng

Tòa chia bằng hiện vật để cả hai có chỗ ở: ông Đ. nhận nhà 3 tầng và 155,6m² đất; bà T. nhận nhà cấp 4 phía đông và 57,7m² đất. Phần hiện vật ông Đ. nhận vượt phần được hưởng, nên ông phải thanh toán cho bà T. 397.874.900 đồng và trả con trai 20.573.300 đồng tiền công sức.

Phần quyết định chia nhà đất bố mẹ chồng cho khi ly hôn, người vợ được chia 1/4 tài sản chung
Trang 11 bản án: Tòa quyết định chia tài sản chung, người vợ được hưởng 1/4 (đã che thông tin)

Vui lòng xem thêm bài viết: Tìm hiểu về chia tài sản khi ly hôn

Án phí chia tài sản: cần cân nhắc kỹ trước khi khởi kiện

Ngoài 300.000 đồng án phí ly hôn, mỗi bên phải nộp án phí theo giá trị phần tài sản mình được chia, theo Danh mục án phí ban hành kèm Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14:

Người nộpPhần được chiaCách tínhÁn phí theo bản án
Ông Đ.8.186.159.300 đồng112.000.000 đồng + 0,1% phần vượt 4 tỷ đồng116.186.159 đồng
Bà T.2.728.719.800 đồng72.000.000 đồng + 2% phần vượt 2 tỷ đồng86.574.369 đồng

Tổng án phí hai bên nộp hơn 200 triệu đồng, gấp khoảng 670 lần án phí của một vụ ly hôn không tranh chấp tài sản. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, khi giá trị nhà đất lớn, hai bên nên tính trước con số này trước khi quyết định đưa phần tài sản ra Tòa hay tự thỏa thuận. Cách tính án phí theo từng mức giá trị có ở bài án phí tranh chấp tài sản khi ly hôn.

04 bài học từ bản án cho người đang tranh chấp đất của bố mẹ chồng

Thứ nhất: không có giấy tặng cho chưa chắc đất vẫn là của bố mẹ. Người vợ cần chứng minh các tình tiết của Án lệ 03/2016/AL: đất đã được giao cho vợ chồng, vợ chồng xây nhà kiên cố mà không ai phản đối, sử dụng liên tục, đã kê khai và được cấp giấy chứng nhận.

Thứ hai: được xác định là tài sản chung không có nghĩa là chia đôi. Nguồn gốc tài sản từ gia đình một bên là lý do Tòa chia lệch. Người vợ nên chuẩn bị chứng cứ về tiền của mình bỏ ra xây nhà, trả nợ, tôn tạo đất, như giấy vay, sao kê, hóa đơn vật liệu, lời khai người làm chứng.

Thứ ba: nếu bố mẹ chồng có văn bản tặng cho riêng người chồng thì đất là tài sản riêng của chồng theo khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Khi đó người vợ chỉ có thể yêu cầu tính công sức đóng góp vào phần nhà đã xây.

Thứ tư: nếu bố mẹ chồng còn sống và chưa giao đất, hoặc đất chưa được kê khai, cấp giấy cho vợ chồng, thì đất vẫn là tài sản của bố mẹ. Tòa thường chỉ giải quyết giá trị ngôi nhà vợ chồng đã xây trên đất đó.

Lưu ý: bản án áp dụng Luật Đất đai 2013 và được xét xử khi còn Tòa án nhân dân cấp huyện. Từ ngày 01/7/2025, vụ việc tương tự do Tòa án nhân dân khu vực giải quyết sơ thẩm; Luật Đất đai 2024 thay thế Luật Đất đai 2013 từ ngày 01/8/2024. Nguyên tắc chia tài sản chung tại Điều 59 và Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không thay đổi.

Câu hỏi thường gặp

Sổ đỏ đứng tên chồng thì vợ có được chia không?
Tên trên giấy chứng nhận không tự quyết định đó là tài sản riêng. Trong vụ trên, giấy chứng nhận đứng tên ông Đ. là chủ hộ nhưng Tòa vẫn xác định là tài sản chung, vì đất được cấp cho cả hộ và thuộc trường hợp của Án lệ 03/2016/AL.

Anh chị em của chồng có quyền đòi lại đất khi vợ chồng ly hôn không?
Chỉ khi còn thời hiệu chia di sản hoặc đất chưa được bố mẹ cho vợ chồng. Trong vụ trên, yêu cầu của ba chị em gái bị bác vì thời hiệu 30 năm đã hết và mẹ đã cho vợ chồng người anh.

Con đã góp tiền làm nhà có được chia không?
Có, nếu chứng minh được phần góp. Vụ trên, con trai được trích 1/3 giá trị nhà trọ, công trình phụ đã cùng bố mẹ xây.

Có phải nộp án phí chia tài sản nếu hai bên tự thỏa thuận được tại Tòa không?
Nếu các bên thỏa thuận được với nhau trước khi mở phiên tòa và Tòa công nhận sự thỏa thuận, mức án phí phải nộp giảm so với trường hợp Tòa xét xử. Mức giảm cụ thể theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Lời kết

Như vậy, vụ tranh chấp đất của bố mẹ chồng thường xoay quanh hai câu hỏi: Đất đã được cho vợ chồng chưa, và mỗi người góp bao nhiêu vào khối tài sản. Điều này sẽ là căn cứ để Toà án xem xét về việc phân chia và tỉ lệ phân chia khi phát sinh tranh chấp.

Nếu gia đình bạn đang có nhà xây trên đất của bố mẹ một bên và sắp ly hôn, hãy gửi cho luật sư giấy chứng nhận, giấy tờ mua bán, xây dựng mà bạn đang có để được đánh giá trước khi nộp đơn. Luật Nhật Thư nhận giải quyết ly hôn có tranh chấp nhà đất; trình tự khởi kiện xem tại bài thủ tục ly hôn đơn phương.

Thông tin liên hệ

✅ Công ty Luật Nhật Thư
📞 088.6798.458 (gọi / Messenger)
💬 Nhắn Zalo OA Luật Nhật Thư
📩 luatnhatthu@gmail.com

Cần làm thủ tục này?

Gửi ảnh giấy tờ qua Zalo hoặc gọi hotline. Luật sư xem rồi báo lại hồ sơ cần những gì, nộp ở đâu, mất bao lâu và hết bao nhiêu.

Gọi 088.6798.458Nhắn ZaloNhắn Messenger

Bài viết liên quan