Nhận cha ruột có cần người mẹ đồng ý không? Quy định và điều kiện cụ thể
Anh M. (TP. Hồ Chí Minh) thắc mắc: “Liệu nhận cha con có cần mẹ đồng ý không?
Tôi có một bé gái 5 tuổi là con ruột của tôi, nhưng chưa được đăng ký khai sinh tên cha vì trước đây tôi và mẹ cháu không đăng ký kết hôn. Hiện tôi muốn làm thủ tục nhận con và bổ sung tên tôi vào giấy khai sinh. Tuy nhiên, mẹ cháu không đồng ý vì có mâu thuẫn cá nhân. Vậy tôi có thể tự mình làm thủ tục nhận cha con không cần mẹ đồng ý được không?”
Luật sư trả lời:
Luật Nhật Thư trả lời ngắn: tại Ủy ban, người mẹ phải có ý kiến trong tờ khai nếu con chưa thành niên, trừ trường hợp không liên hệ được với người mẹ và con đang sống cùng cha. Nếu người mẹ vẫn liên lạc được nhưng không đồng ý, việc nhận cha con trở thành tranh chấp và phải giải quyết tại Tòa án, theo khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Chi tiết từng trường hợp ở dưới.
Bài viết dưới đây sẽ giải đáp chi tiết về câu hỏi Nhận cha con có cần mẹ đồng ý không? Liệu các thủ tục có giống nhận cha con thông thường?
Mục Lục
Nhận cha con không cần mẹ đồng ý tại Uỷ ban nhân dân
Khi cha nhận con chưa thành niên tại UBND, Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con có mục ghi ý kiến của người hiện đang là mẹ. Đây là cách pháp luật thể hiện yêu cầu người mẹ phải đồng ý.
Tuy nhiên, pháp luật cũng dự liệu một số tình huống đặc biệt, cho phép người cha thực hiện thủ tục nhận con mà không cần sự đồng ý của người mẹ, được hướng dẫn cụ thể tại Điều 16 Thông tư 04/2020/TT-BTP, cụ thể
Trước khi đọc tiếp: nếu người mẹ đang có chồng hợp pháp thì tình huống của bạn không giải quyết được tại UBND, phải qua toà án — xem con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nhưng cha ruột là người khác.
Trường hợp 1: Người cha không liên lạc được với người mẹ
Tình huống pháp luật:
Tôi tên là S (Tp. Hà Nội), trước đây tôi và bạn gái sống chung như vợ chồng và có một con trai 4 tuổi. Khi cháu được 3 tháng, bạn gái tôi đột nhiên bỏ đi nơi khác, không còn tin tức gì cả, để lại đứa bé cho tôi chăm sóc và nuôi dưỡng cùng 1 giấy khai sinh chỉ ghi tên mẹ nhưng không có tên tôi.
Hiện tôi muốn cho cháu nhập khẩu vào nhà tôi, tuy nhiên bên Công an không cho phép vì trên giấy khai sinh tôi không phải bố cháu. Hiện tại tôi không thể liên hệ được với mẹ cháu. Vậy tôi có thể làm thủ tục nhận cha con tại UBND mà không cần mẹ cháu ký tên vào tờ khai được không?
Trường hợp của anh S là một trường hợp phổ biến khi khách hàng tìm đến Luật Nhật Thư.
Theo khoản 1 Điều 16 Thông tư 04/2020/TT-BTP:
“1. Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, sinh con, người con sống cùng với người cha, khi người cha làm thủ tục nhận con mà không liên hệ được với người mẹ thì không cần có ý kiến của người mẹ trong Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con”
……………..
Do đó, anh S không cần phải có ý kiến của bạn gái để được nhận cha con.
Tham khảo bài viết: Thủ tục Khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi
Hướng dẫn thủ tục
Chuẩn bị hồ sơ:
- Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con;
- Văn bản cam đoan;
- Kết quả xét nghiệm huyết thống (ADN);
- Giấy khai sinh/Giấy chứng sinh của trẻ;
- Văn bản chứng minh việc đã từng sống chung như vợ chồng giữa cha và mẹ ((ví dụ: giấy tờ thuê nhà chung, hình ảnh, lời khai của nhân chứng, v.v.).
- Giấy tờ tùy thân của cha và mẹ, trường hợp không có giấy tờ của mẹ sẽ kê khai theo thông tin người cha cũng cấp
Nộp hồ sơ: Nộp tại UBND cấp xã nơi trẻ đã được đăng ký khai sinh.
Xử lý hồ sơ: UBND sẽ cập nhật thông tin người cha vào Sổ đăng ký khai sinh và cấp lại Giấy khai sinh có đầy đủ thông tin cha mẹ.
Thời gian xử lý: 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ; nếu cần xác minh thì kéo dài không quá 05 ngày làm việc, theo khoản 2 Điều 25 Luật Hộ tịch 2014.
Lưu ý: Trách nhiệm, hậu quả pháp lý về việc cam đoan không đúng sự thật
- Trường hợp cho phép người yêu cầu đăng ký hộ tịch lập văn bản cam đoan về nội dung yêu cầu đăng ký hộ tịch thì cơ quan đăng ký hộ tịch phải giải thích rõ cho người lập văn bản cam đoan về trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan không đúng sự thật.
- Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan không đúng sự thật.
Trường hợp 2: Bổ sung thông tin cha cho con sinh trước khi đăng ký kết hôn
Tình huống cụ thể:
Anh T và chị U có con chung là bé V trước khi đăng ký kết hôn. Khi khai sinh cho bé V, chỉ có thông tin của chị U được ghi trong Giấy khai sinh, phần thông tin cha để trống. Nay anh T và chị U đã đăng ký kết hôn và muốn bổ sung thông tin anh T là cha của bé V.
Theo khoản 2 Điều 16 Thông tư 04/2020/TT-BTP:
“2. Trường hợp con do người vợ sinh ra trước thời điểm đăng ký kết hôn, đã được đăng ký khai sinh nhưng không có thông tin về người cha, nay vợ chồng có văn bản thừa nhận là con chung thì không phải làm thủ tục nhận cha, con mà làm thủ tục bổ sung hộ tịch để ghi bổ sung thông tin về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của người con.”
Trường hợp này, anh T và chị U không cần làm thủ tục nhận cha, con mà chỉ cần thực hiện thủ tục bổ sung hộ tịch để ghi thông tin anh T vào Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của bé V. Điều kiện là hai người phải cung cấp văn bản thừa nhận bé V là con chung.
Hướng dẫn thủ tục:
Chuẩn bị hồ sơ:
- Văn bản thừa nhận con chung của vợ chồng (theo mẫu hoặc tự soạn, có chữ ký của cả hai).
- Giấy khai sinh (bản sao và bản gốc để đối chiếu).
- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vợ chồng
- Giấy tờ tùy thân của vợ chồng
Nộp hồ sơ: Nộp tại UBND cấp xã nơi trẻ đã được đăng ký khai sinh.
Xử lý hồ sơ: UBND sẽ cập nhật thông tin cha vào Sổ đăng ký khai sinh và cấp lại Giấy khai sinh có đầy đủ thông tin cha mẹ.
Thời gian xử lý: công chức tư pháp – hộ tịch ghi bổ sung ngay trong ngày; nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết được ngay thì trả kết quả trong ngày làm việc tiếp theo, theo Điều 29 Luật Hộ tịch 2014.
Lưu ý: Việc cung cấp văn bản thừa nhận con chung sai sự thật sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý theo Điều 5 Thông tư 04/2020/TT-BTP, như bị hủy bỏ đăng ký.
Trường hợp 3: Ghi thông tin cha khi đăng ký khai sinh cho con sinh trước khi kết hôn
Tình huống cụ thể:
Anh X và chị Y có con chung là bé Z trước khi đăng ký kết hôn. Bé Z chưa được đăng ký khai sinh. Nay anh X và chị Y đã kết hôn và muốn đăng ký khai sinh cho bé Z, đồng thời ghi rõ anh X là cha của bé.
Theo khoản 3 Điều 16 Thông tư 04/2020/TT-BTP:
“3. Trường hợp con do người vợ sinh ra trước thời điểm đăng ký kết hôn, chưa được đăng ký khai sinh mà khi đăng ký khai sinh, vợ chồng có văn bản thừa nhận là con chung thì thông tin về người cha được ghi ngay vào Giấy khai sinh của người con mà không phải làm thủ tục đăng ký nhận cha, con.”
Trường hợp này, anh X và chị Y không cần làm thủ tục nhận cha, con. Khi đăng ký khai sinh cho bé Z, họ chỉ cần cung cấp văn bản thừa nhận bé Z là con chung, và thông tin về anh X sẽ được ghi trực tiếp vào Giấy khai sinh.
Hướng dẫn thủ tục:
Chuẩn bị hồ sơ:
- Tờ khai đăng ký khai sinh (theo mẫu do UBND cung cấp);
- Văn bản thừa nhận bé con chung;
- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;
- Giấy chứng sinh hoặc giấy tờ xác nhận việc sinh từ cơ sở y tế;
- Giấy tờ tùy thân của vợ chồng;
Nộp hồ sơ: Nộp tại UBND cấp xã nơi bé Z cư trú.
Xử lý hồ sơ: UBND sẽ ghi nhận thông tin cha mẹ vào Giấy khai sinh của bé Z.
Thời gian xử lý: đăng ký khai sinh được giải quyết ngay trong ngày khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, theo khoản 2 Điều 16 Luật Hộ tịch 2014.
Lưu ý: Cung cấp văn bản thừa nhận con chung sai sự thật sẽ bị xử lý theo Điều 5 Thông tư 04/2020/TT-BTP, có thể dẫn đến hủy bỏ Giấy khai sinh.
THAM KHẢO BÀI VIẾT: Phí, lệ phí nhận cha con là bao nhiêu?
Nhận cha con không cần mẹ đồng ý tại Tòa án
Tình huống pháp luật:
Anh A là cha ruột của bé B, nhưng bé B được sinh ra khi mẹ bé (chị C) đang trong thời kỳ hôn nhân với người khác (anh D) . Theo pháp luật, bé B được đăng ký là con của anh D (người chồng hợp pháp) trong Giấy khai sinh. Anh A muốn nhận bé B là con ruột của mình, nhưng chị C không đồng ý.
Theo Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc trong vòng 300 ngày kể từ ngày chấm dứt hôn nhân được coi là con chung của người chồng trong cuộc hôn nhân đó. Nếu anh A muốn được công nhận là cha ruột của bé B, nhưng chị C không đồng ý, anh A có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu xác định cha con.
Căn cứ pháp lý:
- Điều 101 và Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Tòa án giải quyết việc xác định cha, mẹ, con khi có tranh chấp; cha, mẹ, con có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho mình.
- Anh A cần cung cấp bằng chứng chứng minh mối quan hệ cha con, chẳng hạn như kết quả xét nghiệm ADN hoặc các chứng cứ khác (hình ảnh, tin nhắn, nhân chứng, v.v.).
Hướng dẫn thủ tục:
- Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện:
- Đơn khởi kiện yêu cầu xác định cha con (theo mẫu của Tòa án).
- Kết quả xét nghiệm ADN hoặc các bằng chứng chứng minh anh A là cha ruột (nếu có).
- Giấy khai sinh của bé B (bản sao chứng thực).
- Giấy tờ tùy thân của anh A (bản sao chứng thực).
- Các tài liệu chứng minh mối quan hệ giữa anh A và chị C (nếu có).
- Nộp đơn khởi kiện: tại Tòa án nhân dân khu vực nơi bị đơn cư trú, theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn thường là chị C.
- Quy trình xét xử:
- Tòa án sẽ xem xét hồ sơ và có thể yêu cầu xét nghiệm ADN nếu chưa có.
- Nếu Tòa án xác định anh A là cha ruột, Tòa án ra bản án hoặc quyết định xác định cha cho con.
- Cập nhật Giấy khai sinh:
- Sau khi có quyết định của Tòa án, anh A mang quyết định này đến UBND cấp xã nơi bé B đăng ký khai sinh để cập nhật thông tin cha.
- Hồ sơ bao gồm: Quyết định của Tòa án, Giấy khai sinh hiện tại của bé B, giấy tờ tùy thân của anh A.
- Thời gian xử lý:
- Thời gian xét xử tại Tòa án phụ thuộc vào vụ việc, thường từ 2-6 tháng.
- Cập nhật thông tin cha trên Giấy khai sinh tại UBND: thường giải quyết ngay trong ngày hoặc ngày làm việc tiếp theo.
Lưu ý: Việc khởi kiện cần có bằng chứng thuyết phục, đặc biệt là xét nghiệm ADN. Nếu chị C hoặc anh D (người chồng hợp pháp) phản đối, Tòa án sẽ xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo quyền lợi của bé B. Anh A cũng cần chuẩn bị tinh thần cho các chi phí liên quan (phí xét nghiệm ADN, án phí, v.v.).
Mẹ vẫn liên lạc được nhưng không đồng ý thì làm thế nào?
Đây là trường hợp của anh M. ở đầu bài: cha mẹ không đăng ký kết hôn, người mẹ vẫn liên lạc được nhưng không đồng ý cho cha nhận con. Trường hợp này không thuộc khoản 1 Điều 16 Thông tư 04/2020/TT-BTP, vì điều kiện ở đó là “không liên hệ được với người mẹ” và con đang sống cùng cha.
Như vậy, khi người mẹ phản đối, việc nhận cha con đã có tranh chấp. UBND cấp xã sẽ từ chối và hướng dẫn người cha khởi kiện yêu cầu xác định cha cho con tại Tòa án nhân dân khu vực nơi người mẹ cư trú, theo khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Chứng cứ quyết định là kết quả xét nghiệm ADN. Nếu người mẹ không cho lấy mẫu của con, người cha đề nghị Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định. Thực tế, khi có quyết định trưng cầu của Tòa án, phần lớn người mẹ sẽ hợp tác, vì từ chối kéo dài chỉ làm vụ án lâu hơn chứ không thay đổi được sự thật huyết thống.
Lời kết
Như vậy, việc nhận lại cha đẻ cho con không nhất thiết cần người mẹ phải có mặt trong những tình huống nêu trên. Vì vậy, bạn hoàn toàn có thể vận dụng quy định của pháp luật để xử lý giải quyết. Nếu gặp khó khăn khi thực hiện, vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin sau.
Khi người mẹ không hợp tác, hồ sơ thường phải chuyển sang Tòa án. Luật Nhật Thư hỗ trợ cả hai hướng, xem dịch vụ nhận cha cho con.
Thông tin liên hệ
✅ Công ty Luật Nhật Thư
📞 088.6798.458 (gọi / Messenger)
💬 Nhắn Zalo OA Luật Nhật Thư
📩 luatnhatthu@gmail.com
Cần làm thủ tục này?
Gửi ảnh giấy tờ qua Zalo hoặc gọi hotline. Luật sư xem rồi báo lại hồ sơ cần những gì, nộp ở đâu, mất bao lâu và hết bao nhiêu.
