Người Công giáo có được tái hôn không?
|

Người công giáo có được tái hôn không? Thủ tục kết hôn theo quy định

Chia sẻ

Trả lời ngắn: Theo pháp luật Việt Nam, người Công giáo được kết hôn lần hai như mọi công dân khác, khi hôn nhân trước đã chấm dứt và đáp ứng điều kiện tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; tôn giáo không phải điều kiện kết hôn. Theo giáo luật Công giáo, việc kết hôn lần sau chỉ được chấp nhận khi dây hôn phối trước không còn, chủ yếu là khi người phối ngẫu qua đời hoặc hôn nhân trước được Tòa án Giáo hội tuyên bố vô hiệu.

Hai hệ thống này độc lập với nhau. Quyết định ly hôn của Tòa án nhân dân không chấm dứt hôn phối theo giáo luật; ngược lại, tuyên bố vô hiệu của Tòa án Giáo hội không chấm dứt hôn nhân đã đăng ký theo pháp luật. Bài viết trình bày từng hệ thống, sau đó đối chiếu qua các tình huống thường gặp.

Hôn phối theo giáo luật Công giáo

Theo Bộ Giáo luật 1983, hôn phối được thiết lập bởi sự ưng thuận của một người nam và một người nữ, được bày tỏ hợp pháp giữa hai người có năng cách pháp lý (điều 1057). Sự ưng thuận phải tự do; hai bên phải hiểu hôn nhân là sự kết hợp suốt đời, hướng đến thiện ích của vợ chồng và việc sinh sản, giáo dục con cái (điều 1055), đồng thời có đủ năng lực thể chất và tâm lý để thực hiện các nghĩa vụ đó.

Hai đặc tính cốt yếu của hôn phối là tính duy nhất và tính bất khả phân ly (điều 1056). Việc tuân thủ nghi thức cử hành theo giáo luật là cần thiết nhưng chưa đủ; hôn phối chỉ thành sự khi sự ưng thuận của hai bên hợp lệ.

Các trường hợp giáo luật chấp nhận kết hôn lần sau

Điều 1141 Bộ Giáo luật quy định hôn phối thành sự và đã hoàn hợp không thể bị tháo gỡ bởi bất cứ quyền bính nhân loại nào và vì bất cứ lý do nào, ngoài sự chết. Trên cơ sở đó, việc kết hôn lần sau chỉ đặt ra trong các trường hợp sau:

  1. Người phối ngẫu đã qua đời. Dây hôn phối chấm dứt; người còn sống được kết hôn lại theo giáo luật.
  2. Hôn nhân trước được tuyên bố vô hiệu. Tòa án Hôn phối của giáo phận xác định hôn nhân chưa từng thành sự ngay từ đầu, do khiếm khuyết về sự ưng thuận, về năng cách hoặc về nghi thức. Đây không phải là “ly hôn trong Giáo hội”, mà là xác nhận dây hôn phối chưa từng tồn tại.
  3. Các trường hợp tháo gỡ đặc biệt, gồm hôn phối chưa hoàn hợp (điều 1142) và đặc ân Thánh Phaolô đối với hôn nhân giữa hai người chưa được rửa tội (điều 1143). Các trường hợp này do thẩm quyền Giáo hội xem xét theo thủ tục riêng.

Việc hôn nhân đổ vỡ hoặc hai bên đã ly hôn tại Tòa án nhân dân không thuộc các trường hợp trên. Theo khoản 2 điều 1085, ngay cả khi hôn nhân trước bị cho là vô hiệu, người đó cũng chưa được kết hôn lần sau trong Giáo hội cho đến khi sự vô hiệu được xác định hợp pháp.

Các vấn đề về hồ sơ tuyên bố vô hiệu và đời sống bí tích sau tái hôn thuộc thẩm quyền của Giáo hội. Người có nhu cầu liên hệ linh mục quản xứ hoặc Tòa án Hôn phối của giáo phận để được hướng dẫn.

Kết hôn lần hai theo pháp luật Việt Nam

Khoản 2 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Pháp luật không đặt tôn giáo, số lần kết hôn hoặc sự chấp thuận của tổ chức tôn giáo làm điều kiện kết hôn.

Theo khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, nam, nữ kết hôn phải đáp ứng các điều kiện:

  • Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
  • Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
  • Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
  • Việc kết hôn không thuộc trường hợp cấm tại điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 5 Luật này.

Đối với người đã từng kết hôn, điều kiện quyết định là hôn nhân trước đã chấm dứt theo pháp luật: bản án, quyết định ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, hoặc vợ, chồng đã chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác thuộc trường hợp bị cấm tại điểm c khoản 2 Điều 5. Pháp luật Việt Nam không quy định thời gian chờ giữa việc ly hôn và việc kết hôn lần sau.

Theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền; việc kết hôn không được đăng ký thì không có giá trị pháp lý. Lễ cưới tại nhà thờ, dù hợp lệ theo giáo luật, không thay thế thủ tục đăng ký kết hôn.

Đối chiếu các tình huống thường gặp

Tình huốngTheo pháp luật Việt NamTheo giáo luật Công giáo
Vợ hoặc chồng đã chếtĐược đăng ký kết hôn lần haiĐược kết hôn lần sau
Đã ly hôn theo bản án, quyết định của Tòa án nhân dânĐược đăng ký kết hôn lần haiDây hôn phối trước vẫn còn; chưa được kết hôn lần sau trong Giáo hội
Đã ly hôn tại Tòa án nhân dân và hôn nhân trước được Tòa án Giáo hội tuyên bố vô hiệuĐược đăng ký kết hôn lần haiĐược kết hôn lần sau
Hôn nhân được Tòa án Giáo hội tuyên bố vô hiệu nhưng chưa ly hôn tại Tòa án nhân dânHôn nhân đã đăng ký vẫn tồn tại; chưa được đăng ký kết hôn với người khácĐược kết hôn lần sau
Chỉ cử hành hôn phối tại nhà thờ, chưa đăng ký kết hônKhông phát sinh quan hệ vợ chồng theo pháp luậtDây hôn phối đã được thiết lập

Tình huống thứ tư và thứ năm cho thấy hệ quả của việc hai hệ thống vận hành độc lập. Người đã được Tòa án Giáo hội tuyên bố vô hiệu vẫn phải giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân trước khi đăng ký kết hôn mới. Cặp đôi chỉ cử hành hôn phối tại nhà thờ cần đăng ký kết hôn để quan hệ vợ chồng được pháp luật công nhận, bao gồm quyền đối với tài sản chung và quyền thừa kế.

Thủ tục đăng ký kết hôn lần hai

Thủ tục đăng ký kết hôn lần hai giống thủ tục đăng ký kết hôn lần đầu; điểm khác là cơ quan đăng ký hộ tịch kiểm tra việc hôn nhân trước đã chấm dứt.

Hai bên đều là công dân Việt Nam

Cơ quan có thẩm quyềnỦy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên (Điều 17 Luật Hộ tịch 2014)
Giấy tờ nộpTờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu
Giấy tờ xuất trìnhThẻ căn cước, hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân có ảnh còn giá trị sử dụng. Chứng minh nhân dân hết giá trị sử dụng từ ngày 01/01/2025
Giấy tờ về việc hôn nhân trước chấm dứtBản sao bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật hoặc trích lục khai tử của vợ, chồng trước, để cơ quan đăng ký đối chiếu khi thông tin chưa có trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử
Thời hạnGiải quyết ngay khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ; trường hợp phải xác minh không quá 05 ngày làm việc (Điều 18 Luật Hộ tịch 2014)
Nhận kết quảHai bên cùng có mặt, ký Sổ hộ tịch và Giấy chứng nhận kết hôn

Công dân Việt Nam không phải nộp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân khi cơ quan đăng ký hộ tịch khai thác được thông tin từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, theo Nghị định 07/2025/NĐ-CP và khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 66.7/2025/NQ-CP.

Một bên được trực tiếp nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký hộ tịch mà không cần văn bản ủy quyền của bên còn lại (khoản 1 Điều 2 Thông tư 04/2020/TT-BTP). Việc ký Sổ hộ tịch và nhận Giấy chứng nhận kết hôn không được ủy quyền.

Người đã ly hôn hoặc hủy việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phải thực hiện thủ tục ghi chú ly hôn tại Việt Nam trước khi đăng ký kết hôn lần hai.

Một bên là người nước ngoài

Kể từ ngày 01/7/2025, Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài theo Nghị định 120/2025/NĐ-CP, thay cho Ủy ban nhân dân cấp huyện. Thời hạn giải quyết là 05 ngày làm việc, không quá 10 ngày làm việc nếu phải xác minh.

Ngoài tờ khai, bên là người nước ngoài nộp các giấy tờ theo Điều 30 Nghị định 123/2015/NĐ-CP:

  • Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp, xác nhận hiện tại người đó không có vợ hoặc chồng; trường hợp nước ngoài không cấp loại giấy này thì thay bằng văn bản xác nhận người đó có đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước đó;
  • Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài về việc không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi (áp dụng cho cả hai bên);
  • Bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu.

Giấy tờ nước ngoài phải được hợp pháp hóa lãnh sự, hoặc có chứng nhận Apostille nếu do quốc gia thành viên Công ước Apostille cấp, kể từ ngày 11/9/2026 theo Nghị định 293/2026/NĐ-CP; đồng thời phải dịch sang tiếng Việt và công chứng bản dịch. Hướng dẫn đầy đủ xem tại bài thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Thời hạn nhận Giấy chứng nhận kết hôn

Trường hợp hai bên không thể có mặt vào ngày trả kết quả, hai bên đề nghị bằng văn bản để được gia hạn. Theo Điều 32 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, Giấy chứng nhận kết hôn không được nhận trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày ký sẽ bị hủy. Khi đó, việc đăng ký kết hôn phải được thực hiện lại từ bước nộp hồ sơ.

Câu hỏi thường gặp

Đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân có cần sự chấp thuận của Giáo hội không?

Không. Cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ xem xét điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Văn bản của tổ chức tôn giáo không thuộc thành phần hồ sơ đăng ký kết hôn.

Đã được Tòa án Giáo hội tuyên bố hôn nhân vô hiệu, có phải ly hôn tại Tòa án nhân dân không?

Có, nếu hôn nhân đó đã được đăng ký theo pháp luật. Tuyên bố của Tòa án Giáo hội không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng đã đăng ký; chỉ bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật mới có giá trị này.

Ly hôn tại Tòa án nhân dân có chấm dứt hôn phối theo giáo luật không?

Không. Theo giáo luật, dây hôn phối thành sự và đã hoàn hợp chỉ chấm dứt khi một bên qua đời. Việc kết hôn lần sau trong Giáo hội đòi hỏi hôn nhân trước được Tòa án Giáo hội tuyên bố vô hiệu hoặc thuộc trường hợp tháo gỡ đặc biệt.

Chỉ làm lễ cưới tại nhà thờ, chưa đăng ký kết hôn thì có là vợ chồng hợp pháp không?

Không. Theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc kết hôn không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì không có giá trị pháp lý.

Sau khi ly hôn phải chờ bao lâu mới được đăng ký kết hôn lần hai?

Pháp luật Việt Nam không quy định thời gian chờ. Điều kiện là bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật.

Tái hôn có ảnh hưởng đến việc lãnh nhận các bí tích không?

Vấn đề này thuộc thẩm quyền mục vụ của Giáo hội và không do pháp luật Việt Nam điều chỉnh. Người có thắc mắc trao đổi với linh mục quản xứ.

Phạm vi hỗ trợ của Luật Nhật Thư

Luật Nhật Thư tư vấn và thực hiện các thủ tục theo pháp luật Việt Nam: ly hôn tại Tòa án nhân dân, ghi chú ly hôn đối với bản án, quyết định của nước ngoài, đăng ký kết hôn lần hai trong nước và có yếu tố nước ngoài. Các thủ tục theo giáo luật thuộc thẩm quyền của Giáo hội và không thuộc phạm vi dịch vụ của Luật Nhật Thư.

Trường hợp một bên là người nước ngoài, xem thêm dịch vụ đăng ký kết hôn với người nước ngoài và mẫu tờ khai đăng ký kết hôn.

Thông tin liên hệ

✅ Công ty Luật Nhật Thư
📞 088.6798.458 (gọi / Messenger)
💬 Nhắn Zalo OA Luật Nhật Thư
📩 luatnhatthu@gmail.com
🏛 Biệt thự Lotus 50, Tòa nhà EuroWinDow River Park, xã Đông Anh, TP. Hà Nội

Cần làm thủ tục này?

Gửi ảnh giấy tờ qua Zalo hoặc gọi hotline. Luật sư xem rồi báo lại hồ sơ cần những gì, nộp ở đâu, mất bao lâu và hết bao nhiêu.

Gọi 088.6798.458Nhắn ZaloNhắn Messenger

Bài viết liên quan