Thông báo trả lại đơn khởi kiện ly hôn của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, đã che thông tin khách hàng

Các trường hợp không được ly hôn đơn phương: 05 tình huống Tòa trả đơn hoặc bác yêu cầu ly hôn

Chia sẻ

Pháp luật chỉ cấm một trường hợp ly hôn đơn phương: người chồng không được yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, theo khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Các trường hợp còn lại vẫn nộp được đơn. Nhưng trong một vài trường hợp dù đơn ly hôn có được nộp lên, Tòa án vẫn có thể trả lại đơn hoặc bác yêu cầu nếu thiếu điều kiện.

Cập nhật: Từ ngày 01/7/2024, Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể thế nào là “đang có thai”, “sinh con”, “nuôi con dưới 12 tháng tuổi”. Nhiều tình huống trước đây các Tòa xử khác nhau, như con mất trước 12 tháng hay vợ có thai với người khác, nay đã có câu trả lời thống nhất.

Xác định trường hợp của bạn trước khi nộp đơn

Một số trường hợp Toà án trả lại đơn hoặc bác đơn ly hôn và hướng giải quyết.

Tình huốngTòa án xử lýCăn cứViệc cần làm
Chồng nộp đơn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 thángTrả lại đơn khởi kiệnKhoản 3 Điều 51 Luật HNGĐ 2014; Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTPChờ đủ thời hạn rồi nộp lại, hoặc vợ đứng đơn, hoặc hai bên thuận tình
Không chứng minh được mâu thuẫn trầm trọng, bạo lực gia đình hay vi phạm nghĩa vụ vợ chồngBác yêu cầu ly hônKhoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ 2014Thu thập thêm chứng cứ, khởi kiện lại khi có căn cứ
Cha, mẹ, người thân nộp đơn ly hôn thay cho conKhông thụ lý, trừ trường hợp luật cho phépKhoản 2 Điều 51 Luật HNGĐ 2014Chỉ nộp thay khi đủ hai điều kiện của khoản 2 Điều 51
Hai người chung sống nhưng chưa đăng ký kết hônKhông giải quyết ly hôn mà tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồngKhoản 2 Điều 53, khoản 1 Điều 14 Luật HNGĐ 2014Yêu cầu Tòa giải quyết về con chung, tài sản
Không biết vợ, chồng đang ở đâuYêu cầu bổ sung địa chỉ; có thể trả đơn hoặc đình chỉĐiều 40, Điều 192, Điều 217 BLTTDS 2015; Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTPGhi nơi cư trú cuối cùng, xin xác nhận cư trú, hoặc yêu cầu tuyên bố mất tích

1. Chồng không được ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Như vậy, hạn chế này chỉ áp dụng với người chồng và chỉ trong một khoảng thời gian. Khi thời gian đó kết thúc, người chồng có quyền nộp lại đơn theo khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tòa án nhận đơn trong thời gian bị hạn chế sẽ trả lại đơn với lý do chưa đủ điều kiện khởi kiện.

Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP hiểu ba khái niệm này thế nào

Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn ba khái niệm trong khoản 3 Điều 51 như sau:

  • Đang có thai: khoảng thời gian người vợ mang thai được cơ sở y tế có thẩm quyền xác định, tính đến khi sinh con hoặc đình chỉ thai nghén. Chồng không được yêu cầu ly hôn dù người vợ có thai với ai.
  • Sinh con: gồm cả trường hợp vợ sinh con nhưng không trực tiếp nuôi con, con chết khi chưa đủ 12 tháng tuổi, và vợ có thai từ 22 tuần tuổi trở lên phải đình chỉ thai nghén. Trong các trường hợp này, chồng không được yêu cầu ly hôn trong 12 tháng tính từ ngày vợ sinh con hoặc đình chỉ thai nghén.
  • Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi: áp dụng cho cả con đẻ và con nuôi.

Nghị quyết này còn hướng dẫn riêng cho mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: Chồng của người mang thai hộ và chồng của người nhờ mang thai hộ đều bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong các giai đoạn tương ứng.

Vợ bỏ con từ khi con mới sinh, chồng có được ly hôn không?

Câu hỏi gửi về Luật Nhật Thư:

Vợ tôi sinh con được 2 tháng thì bỏ về nhà ngoại, từ đó tôi một mình nuôi con. Con tôi nay được 11 tháng tuổi. Vợ không nuôi con thì tôi có được đơn phương ly hôn không?

Luật Nhật Thư trả lời: Chưa được. Theo Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, trường hợp vợ đã sinh con nhưng không nuôi con vẫn thuộc khái niệm “sinh con” trong khoản 3 Điều 51. Người chồng phải chờ đến khi con đủ 12 tháng tuổi, tính theo ngày sinh ghi trên giấy khai sinh, rồi mới nộp đơn. Việc người vợ bỏ con từ khi con 2 tháng tuổi là chứng cứ quan trọng khi Tòa xem xét giao con cho ai nuôi, nên bạn cần giữ lại tin nhắn, xác nhận của người làm chứng về thời điểm vợ bỏ đi.

Căn cứ:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
…
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

2. “Sinh con” quy định tại khoản 3 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình là thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Vợ đã sinh con nhưng không nuôi con trong khoảng thời gian từ khi sinh con đến khi con dưới 12 tháng tuổi;

Điều 2 Nghị quyết 01/2024 hướng dẫn về khái niệm sinh con

Vợ có thai với người khác, chồng có được ly hôn không?

Một khách hàng hỏi:

Vợ chồng tôi ly thân 2 năm. Nay vợ tôi có thai với người khác nhưng không đồng ý ly hôn. Tôi chắc chắn đứa trẻ không phải con tôi, tôi có được đơn phương ly hôn không?

Luật Nhật Thư trả lời: Người chồng không được ly hôn trong thời gian vợ đang có thai và 12 tháng sau khi sinh.

Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP nêu rõ chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai mà không phân biệt vợ có thai với ai. Trong thời gian này, việc ly hôn chỉ giải quyết được nếu người vợ nộp đơn, hoặc hai bên thuận tình.

Như vậy, sau khi đứa trẻ ra đời, người chồng có thể yêu cầu Tòa án xác định không phải là cha của đứa trẻ theo Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, vì trẻ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng. Sau đó, người chồng mới có thể nộp đơn yêu cầu ly hôn.

Khi nào hạn chế của khoản 3 Điều 51 không áp dụng

Hạn chế của Khoản 3 Điều 51 được áp dụng khi:

  • Người vợ là người nộp đơn ly hôn: luật không hạn chế quyền của người vợ.
  • Hai vợ chồng cùng yêu cầu thuận tình ly hôn: thực tiễn Tòa án vẫn giải quyết, vì yêu cầu xuất phát từ cả hai người, không phải yêu cầu đơn phương của người chồng.
  • Con đã đủ 12 tháng tuổi và vợ không đang có thai.

2. Chưa đủ căn cứ ly hôn thì Tòa án bác yêu cầu ly hôn

Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng
Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Ảnh do Luật Nhật Thư chụp trong quá trình làm việc.

Tòa án chỉ cho ly hôn theo yêu cầu của một bên khi hòa giải không thành và có căn cứ về một trong các vi phạm tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: bạo lực gia đình, hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Hiểu đơn giản, đơn ly hôn đơn phương không bị cấm, nhưng đơn chỉ viết “hết tình cảm” mà không có tài liệu hoặc chứng cứ cụ thể nào thì có nguy cơ bị bác đơn, không giải quyết ly hôn do không chứng minh được hôn nhân trầm trọng.

Tài liệu sử dụng để chứng minh cho căn cứ ly hôn mà Tòa thường cân nhắc gồm: tin nhắn, biên bản hòa giải ở thôn, tổ dân phố, biên bản của công an xã về bạo lực gia đình, xác nhận hai người đã sống riêng hoặc ý kiến của cha mẹ hai bên gia đình xác nhận về việc hai vợ chồng xa cách. Cách chứng minh từng căn cứ cụ thể có ở bài ly hôn khi chồng ngoại tình và bài chồng đánh vợ có nên ly hôn không.

Sau khi bị bác đơn ly hôn, thì theo hướng dẫn của Điều 10 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP về hôn nhân gia đình thì sau 01 năm, người bị bác đơn mới có quyền khởi kiện lại.

c. Cần chú ý là tuy pháp luật tố tụng chưa quy định, nhưng đối với người có đơn yêu cầu xin ly hôn mà bị Toà án bác đơn xin ly hôn thì sau một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án bác đơn xin ly hôn có hiệu lực pháp luật, người đó mới lại được yêu cầu Toà án giải quyết việc xin ly hôn.

Điều 10 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP.

Mặc dù Nghị quyết 02/2000 đã hướng dẫn từ lâu, tới nay Nghị quyết 01/2024 không có hướng dẫn cụ thể về nội dung này, nên hướng dẫn này vẫn có hiệu lực thi hành áp dụng. Hết thời hạn 01 năm, người bị bác đơn vẫn có quyền khởi kiện ly hôn lại.

3. Cha mẹ, người thân không được ly hôn thay, trừ trường hợp khoản 2 Điều 51

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Như vậy, người thân chỉ được đứng đơn khi đủ cả hai điều kiện: người vợ hoặc chồng không thể nhận thức, làm chủ hành vi, và người đó là nạn nhân của bạo lực gia đình do chính người kia gây ra. Thiếu một điều kiện thì Tòa không thụ lý đơn của người thân. Khi đủ điều kiện, Tòa giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về bạo lực gia đình ảnh hưởng nghiêm trọng, theo khoản 3 Điều 56.

Thực tế, hồ sơ loại này cần kết luận giám định pháp y tâm thần hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự, cộng với tài liệu về bạo lực gia đình như biên bản của công an, hồ sơ điều trị.

4. Chưa đăng ký kết hôn thì Tòa không giải quyết ly hôn

Chưa đăng ký kết hôn thì Tòa không có gì để giải quyết ly hôn. Nếu bạn nộp đơn xin ly hôn mà không chứng minh được hai người sống chung như vợ chồng, Tòa trả lại đơn vì chưa đủ điều kiện khởi kiện. Đây là một thông báo như vậy, căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình và điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thông báo trả lại đơn khởi kiện vì không chứng minh được sống chung như vợ chồng, đã che thông tin khách hàng
Thông báo số 33/TB-TA ngày 06/6/2025 của TAND tỉnh Cà Mau: trả lại đơn vì không có căn cứ chứng minh sống chung như vợ chồng theo khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình. Ảnh đã che thông tin khách hàng.

Hai người chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không phát sinh quan hệ vợ chồng, theo khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Khi một bên nộp đơn ly hôn, Tòa án không xử ly hôn mà tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, theo khoản 2 Điều 53. Quyền, nghĩa vụ đối với con chung và việc chia tài sản vẫn được Tòa giải quyết nếu có yêu cầu.

Tòa án cũng không giải quyết ly hôn nếu vợ, chồng kết hôn ở nước ngoài nhưng chưa thực hiện việc khai báo, ghi chú kết hôn trong sổ hộ tịch. Theo tinh thần của Nghị quyết 01/2003, chỉ khi nào ghi chú kết hôn, Tòa án mới thụ lý đơn ly hôn.

5. Không biết vợ, chồng đang ở đâu thì đơn ly hôn dễ bị trả lại

Thông báo trả lại đơn trông như thế này. Tòa ghi rõ đã yêu cầu bổ sung những gì, bổ sung từ thông báo nào, và căn cứ trả đơn là điểm e khoản 1 Điều 192 và khoản 1 Điều 194 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong vụ này, một trong những thứ Tòa yêu cầu bổ sung chính là tài liệu chứng minh nơi cư trú của người bị kiện.

Thông báo trả lại đơn khởi kiện ly hôn của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, đã che thông tin khách hàng
Thông báo trả lại đơn khởi kiện ngày 27/5/2025 của TAND tỉnh An Giang: người khởi kiện không bổ sung giấy tờ theo yêu cầu tại Thông báo số 25/TB-TA ngày 17/3/2025. Ảnh đã che thông tin khách hàng.

Một chi tiết nên nhớ: kể từ ngày nhận được thông báo trả lại đơn, người khởi kiện có 10 ngày để khiếu nại. Quá thời hạn này thì phải làm lại hồ sơ từ đầu.

Luật không cấm ly hôn trong trường hợp này, nhưng đơn khởi kiện phải ghi nơi cư trú của bị đơn. Nếu không biết bị đơn đang ở đâu, người khởi kiện được nộp đơn tại Tòa án nơi bị đơn cư trú cuối cùng (điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).

  • Bị đơn cố tình giấu địa chỉ: người khởi kiện đã ghi đúng địa chỉ theo giấy tờ đăng ký kết hôn, giấy xác nhận cư trú mà bị đơn chuyển đi không thông báo thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Tòa vẫn thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung, theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP.
  • Tòa đã thụ lý nhưng không xác minh được bị đơn ở đâu: Tòa có thể đình chỉ giải quyết vụ án (điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).
  • Vợ, chồng biệt tích từ 02 năm trở lên: yêu cầu Tòa tuyên bố mất tích theo Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015, sau đó Tòa giải quyết cho ly hôn theo khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Hồ sơ và mẫu đơn có ở bài ly hôn với người mất tích.

Người vợ có bị hạn chế quyền ly hôn không?

Không. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người vợ. Người vợ đang mang thai, vừa sinh con hay đang nuôi con nhỏ vẫn được nộp đơn ly hôn đơn phương, miễn là có căn cứ theo khoản 1 Điều 56. Hạn chế khi con dưới 12 tháng tuổi khác với nguyên tắc giao con dưới 36 tháng tuổi cho mẹ nuôi tại khoản 3 Điều 81; hai quy định này hay bị nhầm, xem phân biệt tại bài con dưới 36 tháng tuổi có được ly hôn không.

Câu hỏi thường gặp

Con mất khi chưa đủ 12 tháng tuổi, chồng có được ly hôn ngay không?
Chưa. Theo Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, trường hợp này vẫn là “sinh con”, chồng phải chờ đủ 12 tháng tính từ ngày vợ sinh con.

Vợ sảy thai thì chồng có được ly hôn không?
Nếu thai từ 22 tuần tuổi trở lên phải đình chỉ thai nghén, chồng không được yêu cầu ly hôn trong 12 tháng kể từ ngày đình chỉ thai nghén. Thai dưới 22 tuần thì hạn chế chấm dứt khi việc có thai chấm dứt.

Vợ đang nuôi con nuôi 8 tháng tuổi, chồng có được ly hôn không?
Không. Hạn chế áp dụng với cả con đẻ và con nuôi dưới 12 tháng tuổi.

Vợ đang có thai, hai vợ chồng thuận tình ly hôn được không?
Được. Hạn chế của khoản 3 Điều 51 áp dụng với yêu cầu ly hôn của người chồng; khi cả hai cùng yêu cầu, Tòa án xem xét như việc thuận tình ly hôn.

Tòa trả đơn vì con chưa đủ 12 tháng, bao giờ được nộp lại?
Ngay khi con đủ 12 tháng tuổi, hoặc đủ 12 tháng kể từ ngày sinh con, đình chỉ thai nghén trong các trường hợp nêu trên, và vợ không đang có thai. Bạn nộp lại đơn mới cùng bản sao giấy khai sinh của con.

Lời kết

Như vậy, trường hợp duy nhất luật cấm là người chồng yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Những hồ sơ còn lại bị trả hoặc bị bác vì thiếu căn cứ, thiếu địa chỉ bị đơn hoặc sai người đứng đơn, và đều có cách bổ sung.

Trình tự đầy đủ sau khi đơn được nhận xem tại bài thủ tục ly hôn đơn phương. Nếu hồ sơ của bạn đã bị Tòa trả lại một lần, Luật Nhật Thư nhận rà soát và nộp lại hồ sơ ly hôn đơn phương cho đúng điều kiện.

Cần làm thủ tục này?

Gửi ảnh giấy tờ qua Zalo hoặc gọi hotline. Luật sư xem rồi báo lại hồ sơ cần những gì, nộp ở đâu, mất bao lâu và hết bao nhiêu.

Gọi 088.6798.458Nhắn ZaloNhắn Messenger

Bài viết liên quan