Chồng là người nước ngoài ly hôn với vợ ở Việt Nam thế nào?
Người chồng nước ngoài muốn ly hôn vợ Việt Nam phải xác định trước vợ đang ở đâu. Vợ ở Việt Nam, rõ địa chỉ: làm như ly hôn đơn phương trong nước. Vợ ở nước ngoài: ủy thác tư pháp, hoặc tống đạt qua người thân nếu vợ giấu địa chỉ. Vợ không rõ tung tích: phải yêu cầu tuyên bố mất tích trước. Người chồng không bắt buộc về Việt Nam.
Các điểm mới cần lưu ý:
- Từ ngày 01/7/2025: Tòa án nhân dân khu vực giải quyết sơ thẩm vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, thay cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh (Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bởi Luật số 85/2025/QH15);
- Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình, trong đó Điều 10 hướng dẫn giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ;
- Từ ngày 11/9/2026: giấy tờ do các nước thành viên Công ước cấp được chứng nhận Apostille thay cho hợp pháp hóa lãnh sự.
Phần lớn bài viết hiện nay đều viết cho người vợ Việt Nam ly hôn với người nước ngoài ở nước ngoài. Bài này viết cho chiều ngược lại: người chồng là người nước ngoài, và chính người chồng muốn ly hôn. Do họ là người nước ngoài, việc tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam trở lên khó khăn và có nhiều rào cản. Vì vậy, qua bài viết này, chúng tôi sẽ phân biệt từng trường hợp cho người nước ngoài ly hôn với vợ Việt Nam hiện đang ở Việt Nam, đang ở nước ngoài, hiện đang biệt tích, mất liên lạc.
Mục Lục
Chồng là người nước ngoài có quyền đơn phương ly hôn vợ Việt Nam không?
Có. Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Điều luật không đặt điều kiện về quốc tịch.
Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 xác định ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo pháp luật Việt Nam.
Lưu ý: khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Quy định này áp dụng cho người chồng bất kể quốc tịch. Nếu vợ đang ở một trong ba trường hợp này, Tòa án sẽ trả lại đơn của người chồng.

Xác định nơi cư trú của người vợ trước khi nộp đơn
Việc xác định nơi cư trú của người vợ sẽ giúp người nước ngoài nắm được hồ sơ ly hôn nộp về đâu, thời gian giải quyết theo quy định của pháp luật, các căn cứ cung cấp cho Tòa, có nên làm thủ tục mất tích không, có nên ủy thác hay không. Sau đây là bảng so sánh để bạn nắm rõ hơn:
| Tình huống của vợ | Thủ tục áp dụng | Thời gian giải quyết | Căn cứ |
|---|---|---|---|
| 1. Đang ở Việt Nam, rõ địa chỉ | Như ly hôn đơn phương trong nước, nộp tại Tòa án nhân dân khu vực nơi vợ cư trú | Thời hạn chuẩn bị xét xử 04 tháng, gia hạn tối đa 02 tháng nếu phức tạp | điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a khoản 1 Điều 203 BLTTDS 2015 |
| 2a. Đang ở nước ngoài, chứng minh được địa chỉ | Ủy thác tư pháp, Tòa án tống đạt văn bản ra nước ngoài | Phiên hòa giải sớm nhất 06, chậm nhất 08 tháng; phiên tòa sớm nhất 09, chậm nhất 12 tháng kể từ ngày thông báo thụ lý | khoản 2 Điều 476 BLTTDS 2015 |
| 2b. Ở nước ngoài, giấu địa chỉ nhưng vẫn liên lạc với người thân trong nước | Nộp tại Tòa án nhân dân khu vực nơi vợ thường trú, cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh; người thân là bên nhận văn bản tố tụng, giải quyết như ly hôn đơn phương trong nước | Như tình huống 1: 04 tháng | Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP; Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP |
| 2c. Ở nước ngoài, người thân thật sự không liên lạc, người chồng biết thông tin ở nước ngoài | Quay về ủy thác tư pháp | Như tình huống 2a | khoản 2 Điều 476 BLTTDS 2015 |
| 3. Không rõ tung tích, không ai biết ở đâu | Yêu cầu Tòa án tuyên bố vợ mất tích, sau đó mới ly hôn | Biệt tích từ 02 năm liền + 04 tháng thông báo tìm kiếm + thời gian giải quyết ly hôn | Điều 68 BLDS 2015; Điều 387–389 BLTTDS 2015; khoản 2 Điều 56 Luật HNGĐ 2014 |
Bảng xác định thủ tục ly hôn khi chồng là người nước ngoài, theo vị trí và tình trạng liên lạc của người vợ.
Tổng kết: Người vợ càng dễ liên lạc qua địa chỉ hoặc người thân ở Việt Nam, vụ việc càng giải quyết nhanh. Vợ đang ở Việt Nam hoặc vẫn liên lạc với người thân trong nước thì giải quyết trong khoảng 04–06 tháng. Phải ủy thác ra nước ngoài thì từ 09 tháng trở lên. Không rõ tung tích hoặc đã cắt hộ khẩu thường trú khỏi địa phương 02 năm trở lên thì thời gian ly hôn tính bằng năm.
Trường hợp 1: Vợ đang ở Việt Nam, rõ địa chỉ
Thủ tục giống như ly hôn đơn phương trong nước, dù người chồng là người nước ngoài.
Nộp đơn ở đâu: Tòa án nhân dân khu vực nơi vợ cư trú hoặc làm việc. Căn cứ là điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết. Người chồng nộp đơn nên người vợ là bị đơn, và tòa là tòa nơi vợ ở, không phải nơi chồng ở.

Căn cứ để Tòa án cho ly hôn: khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”
Trích khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014
Như vậy, người chồng không chỉ cần nói “tôi muốn ly hôn”. Người chồng phải chứng minh hôn nhân đã đến mức không thể tiếp tục. Thực tế, 02 bên đã ly thân nhiều năm, không còn liên lạc, không còn chung sống là căn cứ Tòa án thường chấp nhận.
Về thời gian: vụ án đi theo thời hạn chuẩn bị xét xử thông thường là 04 tháng, gia hạn tối đa 02 tháng (điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015). Người chồng ở nước ngoài không làm vụ án chuyển sang thời hạn ủy thác tư pháp. Thủ tục ủy thác tư pháp áp dụng khi bị đơn ở nước ngoài, vì bị đơn phải được thông báo và tiếp cận yêu cầu khởi kiện cùng hồ sơ tố tụng của Tòa án. Ở trường hợp này, bị đơn là người vợ đang ở Việt Nam, vẫn liên lạc và tống đạt được, nên Tòa án áp dụng thời hạn 04 tháng.
Trường hợp 2: Vợ đang ở nước ngoài
Người vợ đã ra nước ngoài, thường là đi lao động hoặc sang nước của người chồng rồi bỏ đi. Thủ tục chia làm ba nhánh, tùy người chồng chứng minh được gì về địa chỉ của vợ.
2a. Chứng minh được địa chỉ của vợ ở nước ngoài → ủy thác tư pháp
Khi người chồng cung cấp được địa chỉ cụ thể của vợ ở nước ngoài, Tòa án thực hiện ủy thác tư pháp, tức là gửi văn bản tố tụng ra nước ngoài qua cơ quan có thẩm quyền để tống đạt cho người vợ.
Vì phải chờ kết quả tống đạt từ nước ngoài, thời hạn dài hơn nhiều so với vụ án trong nước. Khoản 2 Điều 476 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:
| Mốc | Thời hạn | Căn cứ |
|---|---|---|
| Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải | sớm nhất 06 tháng, chậm nhất 08 tháng kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý | khoản 2 Điều 476 BLTTDS 2015 |
| Phiên tòa sơ thẩm | sớm nhất 09 tháng, chậm nhất 12 tháng kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý | khoản 2 Điều 476 BLTTDS 2015 |
| Mở lại phiên tòa sau khi hoãn | không quá 01 tháng | khoản 2 Điều 476 BLTTDS 2015 |
Bảng thời hạn tố tụng khi phải ủy thác tư pháp cho người vợ ở nước ngoài.
Tổng kết: kể cả hồ sơ đầy đủ, phiên tòa cũng không thể mở trước 09 tháng. Thời hạn tối thiểu này do luật quy định.
2b. Vợ giấu địa chỉ nhưng vẫn liên lạc với người thân trong nước
Người chồng hay bế tắc ở tình huống này, trong khi đây lại là hướng giải quyết nhanh nếu có đủ căn cứ.
Nhiều trường hợp người vợ ra nước ngoài, không cho người chồng biết địa chỉ, nhưng vẫn gọi điện, nhắn tin, gửi tiền về cho bố mẹ, anh chị em ở Việt Nam. Người chồng không có địa chỉ để Tòa án ủy thác, nhưng người vợ cũng không hề “mất tích”.
Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ:
“Trường hợp qua người thân thích của bị đơn có căn cứ xác định họ có liên hệ với người thân thích ở trong nước nhưng người thân thích của họ không cung cấp địa chỉ của bị đơn cho Tòa án, không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Trường hợp Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà người thân thích của họ không cung cấp địa chỉ, Tòa án tiếp tục giải quyết, xét xử vắng mặt bị đơn.”
Trích khoản 1 Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP
Như vậy, khi có căn cứ cho thấy người vợ vẫn liên lạc với người thân trong nước, người vợ được coi là cố tình giấu địa chỉ. Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP cũng hướng dẫn theo cùng tinh thần về trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Khi đó:
- Người thân trong nước là bên nhận các văn bản tố tụng của Tòa án;
- Vụ án được giải quyết như ly hôn đơn phương trong nước, không phải ủy thác tư pháp;
- Thời gian giải quyết theo thời hạn thông thường là 04 tháng, không phải chờ 09–12 tháng;
- Nộp đơn tại Tòa án nhân dân khu vực nơi người vợ thường trú, là nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam trước khi xuất cảnh;
- Sau khi xét xử, Tòa án gửi bản sao bản án, quyết định cho người thân để chuyển cho người vợ, đồng thời niêm yết công khai (khoản 2 Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP).
Như vậy, điểm mấu chốt không phải là người chồng có biết địa chỉ của vợ hay không, mà là có chứng minh được người vợ vẫn liên lạc với người thân trong nước hay không.
Thực tế, căn cứ thường được dùng là tin nhắn, cuộc gọi, lịch sử chuyển tiền của người vợ cho người thân; lời xác nhận của hàng xóm hoặc chính quyền địa phương rằng người vợ vẫn liên hệ với gia đình; hoặc việc người thân từ chối cung cấp địa chỉ dù biết. Người chồng nên thu thập những tài liệu này trước khi nộp đơn.
2c. Người thân thật sự không liên lạc, nhưng người chồng biết thông tin ở nước ngoài
Nếu người thân trong nước xác nhận thật sự không còn liên lạc với người vợ, thì không thể tống đạt qua người thân. Nhưng nếu người chồng biết thông tin của vợ ở nước ngoài (địa chỉ nơi ở, nơi làm việc, số điện thoại, hồ sơ cư trú) thì vụ việc quay về thủ tục ủy thác tư pháp như tình huống 2a.
Nhiều người chồng nghĩ vợ không liên lạc với gia đình thì là mất tích. Nếu người chồng biết vợ đang ở đâu thì vụ việc vẫn đi theo hướng ủy thác tư pháp.
Trường hợp 3: Vợ không rõ tung tích, phải tuyên bố mất tích trước
Khi không ai biết người vợ đang ở đâu (người chồng không biết, người thân không biết, người vợ không còn liên lạc với ai), người chồng không thể nộp thẳng đơn ly hôn. Tòa án không có địa chỉ nào để tống đạt, cũng không có người thân nào để nhận thay.
Con đường duy nhất là yêu cầu Tòa án tuyên bố người vợ mất tích, rồi mới ly hôn. Đây là hai thủ tục nối tiếp nhau.
Điều kiện tuyên bố mất tích theo Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015:
- Người vợ biệt tích 02 năm liền trở lên, tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng;
- Đã áp dụng đầy đủ biện pháp thông báo, tìm kiếm theo pháp luật tố tụng dân sự;
- Vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết.
- Tòa án có thể xác định việc tuyên bố mất tích hay không thông qua việc xác minh tại công an cư trú của người vợ, nếu họ không có mặt, biệt tích, hay đã bị xóa đăng ký thường trú từ 02 năm trở lên.
Sau khi có quyết định tuyên bố mất tích: khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Người chồng không phải chứng minh hôn nhân trầm trọng như Trường hợp 1, vì quyết định tuyên bố mất tích đã là căn cứ.
Thủ tục tại Tòa án: người chồng nộp đơn yêu cầu tuyên bố người vợ mất tích theo Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích; theo Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời hạn thông báo tìm kiếm là 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên. Hết thời hạn này, Tòa án mở phiên họp và ra quyết định tuyên bố một người mất tích theo Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về thời gian: ngoài 02 năm biệt tích, còn 04 tháng thông báo tìm kiếm và thời gian giải quyết ly hôn sau đó. Người chồng nên tính toàn bộ thủ tục theo đơn vị năm.
Lưu ý phân biệt: “không rõ tung tích” khác với “giấu địa chỉ”. Vợ vẫn liên lạc với người thân là giấu địa chỉ (Trường hợp 2b), đi theo thủ tục trong nước, nhanh hơn nhiều. Chỉ khi thật sự không ai liên lạc được mới là mất tích. Chọn nhầm hướng là mất thêm hàng năm.
Chi tiết thủ tục tại bài Ly hôn với người mất tích có phức tạp không? và Mẫu đơn xin ly hôn với người mất tích.
Người chồng nước ngoài có phải về Việt Nam để ly hôn không?
Theo khoản 4 Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về người đại diện, khi ly hôn đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Tuy nhiên, điều luật cũng không cấm họ ủy quyền cho bên thứ ba nộp hồ sơ, nộp án phí và giao nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Do vậy, đối với các việc về ly hôn, người nước ngoài cần cho lời khai, ký đơn ly hôn trực tiếp gửi về Tòa án, không cần phải có mặt.
Việc cho phép người nước ngoài vắng mặt khi ly hôn cũng được thể hiện rõ ở khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:
2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:
a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật;
Khoản 2 Điều 227 BLTTDS 2015 về việc vắng mặt của nguyên đơn khi tham gia phiên Tòa.
Những văn bản mang ý chí của người chồng thì người chồng phải tự ký:
- Đơn khởi kiện ly hôn;
- Bản ghi lời khai;
- Đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
- Đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.
Việc gửi đơn xin xét xử vắng mặt, ký đơn ly hôn, cho lời khai và ký giấy ủy quyền cần được thực hiện qua văn phòng công chứng ở nước ngoài, xác thực chữ ký vào trong hồ sơ và Hợp pháp hóa lãnh sự gửi về Việt Nam. Sau đây là một số mẫu giấy ủy quyền giao nhận hồ sơ tài liệu của người nước ngoài mà Luật Nhật Thư đã thực hiện.

Thực tế, Luật Nhật Thư soạn sẵn bốn văn bản trên để người chồng ký ở nước ngoài. Chữ ký được chứng thực tại Đại sứ quán, Lãnh sự quán Việt Nam hoặc tại công chứng nước sở tại. Giấy tờ do nước thành viên Công ước Apostille cấp thì được chứng nhận Apostille thay cho hợp pháp hóa lãnh sự; Đài Loan chưa thuộc diện này nên hồ sơ mẫu trong bài vẫn phải hợp pháp hóa lãnh sự. Việc chấp nhận bản ghi lời khai thay cho lời khai trực tiếp thuộc đánh giá của Thẩm phán giải quyết vụ án.
📞 Bạn chưa rõ trường hợp của mình thuộc tình huống nào, vợ giấu địa chỉ hay mất tích? Gọi 088.6798.458 hoặc nhắn Zalo OA Luật Nhật Thư để được xác định đúng thủ tục ngay từ đầu.
Hồ sơ người chồng nước ngoài cần chuẩn bị
- Đơn khởi kiện ly hôn, tham khảo mẫu đơn ly hôn với người nước ngoài;
- Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn. Kết hôn ở nước ngoài thì phải ghi chú kết hôn vào sổ hộ tịch Việt Nam trước;
- Hộ chiếu của người chồng, bản sao có chứng thực;
- Giấy khai sinh của con chung, nếu có;
- Tài liệu chứng minh nơi ở của người vợ: địa chỉ tại Việt Nam (Trường hợp 1), địa chỉ ở nước ngoài (Trường hợp 2a, 2c), hoặc tài liệu chứng minh người vợ vẫn liên lạc với người thân (Trường hợp 2b);
- Quyết định tuyên bố mất tích (Trường hợp 3);
- Giấy tờ về tài sản chung, nếu yêu cầu chia.
Giấy tờ do nước ngoài cấp phải được dịch sang tiếng Việt và công chứng bản dịch. Từ ngày 11/9/2026, giấy tờ của các nước thành viên Công ước được chứng nhận Apostille thay cho hợp pháp hóa lãnh sự. Kiểm tra trước nước cấp giấy tờ có phải thành viên hay không tại bài Chứng nhận Apostille từ 11/9/2026.
Các lưu ý và vướng mắc khi làm thủ tục
Về địa chỉ của người vợ
Vướng mắc lớn nhất trong loại việc này không nằm ở điều luật, mà ở địa chỉ người vợ. Nhiều người chồng nộp đơn ghi địa chỉ cũ của vợ ở quê, trong khi vợ đã đi nước ngoài nhiều năm. Tòa án tống đạt không được, hồ sơ bị yêu cầu bổ sung, vụ việc chậm thêm nhiều tháng.
Khi gặp trường hợp này cần:
- Xác minh lại nơi vợ đang thực sự sinh sống trước khi nộp đơn;
- Hỏi người thân của vợ xem có còn liên lạc hay không;
- Nếu người thân vẫn liên lạc nhưng không cung cấp địa chỉ, thu thập căn cứ để đề nghị Tòa án áp dụng Trường hợp 2b;
- Chỉ đi theo hướng tuyên bố mất tích khi chắc chắn không ai liên lạc được.
Về con chung dưới 12 tháng tuổi
Người vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn (khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Người chồng nên kiểm tra điều này trước khi chuẩn bị hồ sơ.
Về quyền nuôi con
Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Người chồng muốn nuôi con dưới 36 tháng tuổi phải chứng minh người mẹ không đủ điều kiện.
Người chồng đã ly hôn ở nước ngoài rồi
Bản án ly hôn của Tòa án nước ngoài không tự động có hiệu lực tại Việt Nam. Theo sổ hộ tịch Việt Nam, người vợ vẫn đang có chồng cho tới khi việc ly hôn được ghi chú. Người chồng không phải làm lại thủ tục ly hôn, nhưng cần thông báo để vợ thực hiện thủ tục ghi chú việc ly hôn ở nước ngoài.
Các tình huống thực tế thường gặp
Chồng người Đài Loan ở Đài Loan, vợ đang ở quê Việt Nam
Chào Luật sư! Tôi là người Đài Loan, đăng ký kết hôn với vợ tại Việt Nam. Vợ tôi đã về Việt Nam ở với bố mẹ, hai bên ly thân lâu rồi. Tôi muốn ly hôn nhưng không thể về Việt Nam. Tôi phải làm thế nào?
Trả lời: Trường hợp của bạn thuộc Trường hợp 1: vợ đang ở Việt Nam, rõ địa chỉ. Bạn nộp đơn tại Tòa án nhân dân khu vực nơi vợ đang cư trú, thủ tục như ly hôn đơn phương trong nước. Bạn không cần về Việt Nam: ủy quyền cho người ở Việt Nam nộp đơn, giao nhận hồ sơ và nộp tạm ứng án phí; bạn tự ký đơn khởi kiện, bản ghi lời khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt và đơn đề nghị không hòa giải, rồi chứng thực chữ ký. Thời gian ly thân dài, không còn chung sống là căn cứ để Tòa án cho ly hôn theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Chồng người Hàn Quốc, vợ bỏ đi nhưng vẫn gửi tiền về cho gia đình
Chào Luật sư! Vợ tôi sang Hàn Quốc rồi bỏ đi, tôi không biết vợ đang ở đâu. Gia đình vợ ở Việt Nam nói không biết, nhưng tôi biết vợ vẫn gửi tiền về cho mẹ vợ hằng tháng. Tôi có phải làm thủ tục tuyên bố mất tích không?
Trả lời: Không. Người vợ vẫn gửi tiền về cho mẹ là người vợ vẫn liên lạc với người thân trong nước, tức là Trường hợp 2b, người vợ cố tình giấu địa chỉ, không phải mất tích. Bạn thu thập căn cứ về việc chuyển tiền và liên lạc đó, nộp đơn tại Tòa án nhân dân khu vực nơi vợ thường trú, là nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam trước khi xuất cảnh. Theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, người thân là bên nhận văn bản tố tụng và vụ án giải quyết như ly hôn đơn phương trong nước. Nếu làm thủ tục tuyên bố mất tích, bạn sẽ mất thêm hơn 02 năm mà hồ sơ vẫn có thể bị bác vì người vợ không biệt tích.
Dịch vụ ly hôn cho người chồng nước ngoài
Trong gói dịch vụ ly hôn với người nước ngoài, Luật Nhật Thư nhận ủy quyền thực hiện toàn bộ phần việc tại Việt Nam cho người chồng ở nước ngoài:
- Xác định đúng trường hợp của Khách hàng: vợ ở Việt Nam, vợ giấu địa chỉ, hay mất tích;
- Soạn đơn khởi kiện, bản ghi lời khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn đề nghị không hòa giải;
- Hướng dẫn chứng thực chữ ký ở nước ngoài, dịch thuật, Apostille hoặc hợp pháp hóa lãnh sự;
- Thu thập căn cứ chứng minh người vợ vẫn liên lạc với người thân trong nước;
- Nhận ủy quyền nộp đơn, giao nhận hồ sơ, nộp tạm ứng án phí và theo dõi vụ việc tại Tòa án.

Bảng phí, thời gian và quy trình làm việc xem tại trang dịch vụ ly hôn với người nước ngoài trọn gói. Mức án phí xem tại bài án phí ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Lời kết
Người chồng nước ngoài muốn ly hôn vợ Việt Nam không có một thủ tục chung, mà có ba hướng đi tùy vợ đang ở đâu. Vợ ở Việt Nam thì làm như trong nước. Vợ ở nước ngoài thì ủy thác, hoặc tống đạt qua người thân nếu vợ giấu địa chỉ. Không ai biết vợ ở đâu thì tuyên bố mất tích trước.
Sai lầm tốn thời gian nhất mà Luật Nhật Thư thường gặp là chọn nhầm hướng: đi tuyên bố mất tích trong khi người vợ vẫn liên lạc với gia đình, hoặc chờ ủy thác ra nước ngoài trong khi có thể tống đạt qua người thân. Xác định đúng trường hợp ngay từ đầu tiết kiệm được hàng tháng, có khi hàng năm.
Cũng xem thêm bài Thủ tục ly hôn đơn phương với người nước ngoài, bài viết cho chiều người vợ Việt Nam đi kiện chồng nước ngoài.
Thông tin liên hệ
✅ Công ty Luật Nhật Thư
📞 088.6798.458 (gọi / Messenger)
💬 Nhắn Zalo OA Luật Nhật Thư
📩 luatnhatthu@gmail.com
Cần làm thủ tục này?
Gửi ảnh giấy tờ qua Zalo hoặc gọi hotline. Luật sư xem rồi báo lại hồ sơ cần những gì, nộp ở đâu, mất bao lâu và hết bao nhiêu.
